Phổ Hiền Bồ Tát, phật bản mệnh cho người tuổi Thìn Tỵ

0
22

Phổ Hiền Bồ Tát có tên tiếng Phạn là Samantabhadra hoặc Vishvabhadra, dịch âm thành Tam Mạn Đà Bồ Tát, hay còn được gọi là Biến Cát. Ngài là vị phật bản mệnh của người tuổi Thìn và tuổi Tỵ.

Ý nghĩa tên gọi Phổ Hiền Bồ Tát

“Phổ” mang nghĩa là hết thảy, ở mọi nơi, “Hiền” có nghĩa là tối diệu thiện. Phổ Hiền tức là nguyện hạnh do tâm Bồ đề khởi phát và được phổ chiếu mọi nơi, có tính diệu thiện, thuần nhất. Điều này ngụ ý đem diệu nghĩa thuần thiện phổ cấp khắp mọi nơi, đây là tâm nguyện và trách nhiệm của Phổ Hiền.

Trong quyển 1 thuộc Đại Nhật Kinh Sơ có ghi lại: “Phổ Hiền Bồ Tát, phổ có nghĩa trải khắp nơi, Hiền là diệu thiện nhất. Cũng có ý rằng Phổ Hiền Bồ Tát dựa vào hạnh nguyện phát ra từ tâm Bồ Đề cũng như cân bằng của khẩu, thân, ý phổ biến khắp nơi, diệu thiện và thuần nhất, đầy đủ các đức, nên gọi là Phổ Hiền.

Địa vị của Phổ Hiền Bồ Tát

Ngài là một trong tứ đại Bồ Tát của Phật giáo (cùng với Quán Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát và Địa Tạng Bồ Tát). Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Bồ Tát là thị giả của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử đứng bên trái và Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng đứng bên phải.

Trong khi Văn Thù Bồ Tát đại diện cho trí, tuệ, chứng, nắm giữ chứng đức và trí tuệ của chư Phật thì Phổ Hiền Bồ Tát đại diện cho định, lý, hạnh, nắm giữ định đức, lý đức và hạnh đức của chư Phật. Các ngài góp phần diễn giải hoàn bị viên mãn của lý trí, hạnh chứng và định tuệ của đức Như Lai. Hai vị bản tôn và Phật Tỳ Lô Giá Na còn được gọi là Hoa Nghiêm Tam Thánh. Phổ Hiền Bồ Tát được Mật Tông xưng tựng là Thiện Nhiếp Kim Cương, Như Ý Kim Cương, Chân Như Kim Cương. Ngài còn được coi là đồng thể của Kim Cương Tát Đỏa.

Theo Phật giáo Tạng truyền, Phổ Hiền Bồ Tát được miêu tả với hình tượng: ngài cưỡi voi trắng sáu ngà, tay trái đặt sát hông hoặc cầm chuông, tay phải cầm kim cương chùy, đầu đội mũ Ngũ Phật, thân khoác chiếc áo màu, hình tượng như đồng tử 16 tuổi. Hình tượng của ngài toát ra sức mạnh, sự vững chãi nên thường được liên tưởng tới sự tu hành dũng mãnh nhưng cũng ôn hòa của Bồ Tát. Ngoài ra tượng ngài thường có màu trắng, biểu thị sự thanh tịnh, mang ý nghĩa Bồ Tát lấy Lục Độ thâu nhiếp vạn hạnh, lấy ngà voi sắc nhọn phá hủy chướng ngại, không màng oán địch.

Sự tích về Phổ Hiền Bồ Tát

Phổ Hiền Bồ Tát trước đây là tứ thái tử của nhà vua Vô Chánh Niệm, có tên thật là Năng Đà Nô. Nhà vua Vô Tránh Niệm hàng nguyên khuyển bảo nên Thái Tử Năng Đà Nô mới phát tâm cúng dường Phật Bảo Tạng và chúng sinh suốt 3 tháng trời. Lúc đó, một vị quan đại thần trong triều là Bảo Hải, thấy vậy khuyên ngài: “nay Điện Hạ có lòng, đã đạt nhiều công đức như vậy, hãy thành tâm hồi hướng về đạo Vô Thượng Bồ Đề mà cầu thành Phật, còn hơn là cầu những phước báu tầm thường cõi trần, vì cõi ấy vẫn thuộc luân hồi sinh tử.

Thái tử Năng Đà Nô nghe lời, tới thưa với Phật Bảo Tạng: “Thưa Bạch Đức Thế Tôn, tôi đã cúng dường Ngài và chúng sinh 3 tháng, bây giờ tôi xin thành tâm hồi hướng về Vô Thượng Chánh Giác, nguyện phát khởi tâm Bồ Đề, tu hạnh Bồ Tát để giáo hóa chúng sinh thành Phật đạo, nguyện cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm, những điều tốt đẹp và giáo hóa chúng sinh y như thế giới của Đức Phổ Hiền Như Lai”.

Đức Bảo Tạng nghe vậy, liền thọ ký: “hay thay, người phát thệ nguyện lớn lao, muốn độ mọi chúng sinh thành Phật đạo. Khi tu đạo Bồ Tát, dùng trí kim cang đập tan phiền não chúng sinh, nên ta đặt cho ngươi hiệu Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Công Đức, trải qua hằng sa kiếp làm công việc Phật sự lớn, rồi tới thế giới Bất Huyền ở Đông phương mà thành Phật, hiệu Phổ Hiền Như Lai, lúc đó những điều tốt đẹp ngươi cầu nguyện đều được như ý”.

Khi đức Bảo Tạng đã thọ ký cho thái tử, bất ngờ giữa hư không hiện ra nhiều Thiên Tử ở các cõi trời mang đủ hoa thơm đẹp tới cúng dường và cùng bày tỏ khen ngợi.

Thái tử Năng Đà Nô thưa với đức Phật: “Thưa Bạch Đức Thế Tôn, nếu lời nguyện của tôi sau này như lời thọ ký của người, nay tôi xin kính lễ Ngài và Chư Phật, làm sao để khắp thế gian có đủ thứ hương thơm, mùi hương tỏa ra khắp cõi, mọi chúng sinh trên nhân gian mắc nghiệp báo gì nếu ngửi được hương thơm ấy sẽ thoát khổ và hưởng sự an vui”.

Sau đó khi Thái tử Năng Đà Nô còn đang cúi đầu lễ Phật thì đã có mùi hương lan tỏa khắp thế gian. Mọi chúng sinh đều ngửi được mùi hương ấy và trở nên yên vui, tiêu trừ mọi phiền não gặp phải. Thái tử nhờ đức Phật thọ ký nên thân tâm vui mừng, lễ Phật xong ngồi nghe Ngài thuyết pháp.

Nhờ công đức lớn lao đó, Thái tử sau khi mạng chung, sinh ra các thân, các đời khác, kiếp nào ngài cũng nhớ lời thệ nguyện mà dốc sức làm Phật sự, độ hóa chúng sinh, cầu viên mãn những gì Ngài phát nguyện.

Ngài có lòng tu hành như vậy nên đã thành Phật và ngày nay hóa thân vô số trong thế gian để giáo hóa chúng sinh.