Một số khái niệm cơ bản về đá quý

Hầu như các loại đá quý được sử dụng bây giờ đều được con người khai thác ở mỏ – tầng ngoài cùng của vỏ trái đất. Chúng được gọi là khoáng vật, đá và vật liệu tự nhiên, khai thác để phục vụ việc trang trí, xây dựng, điêu khắc, làm đồ trang sức. Vì thế các khái niệm về đá quý thường đi kèm với các khái niệm về khoáng vật, khoáng sản, đá.

Khoáng vật

Định nghĩa: Khoáng vật là một hợp chất hóa học (từ một hay nhiều nguyên tố hóa học) hình thành trong quá trình địa chất tự nhiên. Nó là vật liệu đồng nhất với cấu trúc mạng tinh thể và thành phần (hay công thức) hóa học xác định, mỗi khoáng vật có tính chất hóa học, vật lý riêng khác với các khoáng vật khác.

Ngày nay thế giới đã tìm và nghiên cứu ra hơn 5300 khoáng vật, trong đó có khoảng 5100 được công nhận bởi Hiệp hội khoáng vật học quốc tế (IMA), 100 khoáng vật trong số này có những đặc tính thích hợp để làm đá quý.

Đá

Đơn giản mà nói, đá là tổ hợp tự nhiên của một hay nhiều khoáng vật, hình thành từ quá trình địa chất trong lòng đất. Đá có vai trò quan trọng hình thành nên lớp vỏ trái đất, các dạng địa hình đồi, núi, đồng bằng, đáy sông, đáy biển đều được tạo ra từ đá.

Có hai dạng đá là đơn khoáng và đa khoáng, đá đơn khoáng tạo nên từ một loại khoáng vật (ví dụ đá vôi hình thành từ khoáng vật calcit), đá đa khoáng tạo thành từ nhiều loại khoáng vật khác nhau (như đá hoa cương hình thành từ ba loại khoáng vật felspat, thạch anh và mica).

Khoáng sản

Khoáng sản là loại khoáng vật có giá trị cao trong thương mại. Trong địa chất học, khoáng sản được định nghĩa là các loại đá hay các tổ hợp khoáng vật tự nhiên trong vỏ trái đất, tạo thành từ các quá trình địa chất, được con người phát hiện và khai thác để lấy ra kim loại, hợp chất, khoáng vật có giá trị cao trong thương mại để phục vụ các mục đích kinh tế.

Khoáng sản rất đa dạng, ứng dụng vào nhiều ngành kinh tế khác nhau. Có thể kể tới khoáng sản kim loại đen, kim loại màu cho ngành hóa chất; dầu mỏ, than đá, khí đốt cho ngành năng lượng; khoáng sản đá quý trong ngành trang sức…

Đá quý

Hầu hết đá quý là các khoáng vật: kim cương, aquamarine, emerald, thạch anh…, một số loại đá khác như đá hoa cương là vật liệu xây dựng cao cấp cũng gọi là đá quý.

Ngoài nguồn gốc từ tự nhiên, một số đá quý có nguồn gốc từ sinh vật hoặc qua thời gian dài trở thành hóa thạch như san hô, ngọc trai, gỗ hóa thạch, hổ phách.

Tóm lại đá quý là vật liệu tự nhiên ( một hoặc nhiều khoáng vật, đá…) tạo thành từ quá trình địa chất, do hoạt động của sinh vật hoặc do thời gian, quý, hiếm, có giá trị cao dùng để làm đồ trang trí, trang sức, đồ mỹ nghệ.

Vàng bạc cũng có mục đích sử dụng tương tự như đá quý nhưng chúng được gọi là kim loại quý.

Ngọc học (gemology) là ngành khoa học nghiên cứu về các loại đá quý, với một số nội dung chủ yếu:

– Nghiên cứu, kiểm định đá quý.

– Kỹ thuật gia công, chế tác đá quý.

-Tìm hiểu nguồn gốc, sự phân bố, hình thành của đá quý.

Đối tượng nghiên cứu:

– Các loại khoáng vật, đá có nguồn gốc hữu cơ như kim cương, ngọc bích, beryl…

– Vật liệu nguồn gốc hữu cơ như ngọc trai, hổ phách, gỗ hóa thạch, san hô…

– Đá tổng hợp, đá nhân tạo, đá qua xử lý…

– Vật liệu bắt chước.

– Đá ghép.

Nhiều người vẫn nghĩ ngọc học và khoáng vật học là một, hay ngọc học là một phần thuộc khoáng vật học, vì đối tượng nghiên cứu của hai ngành này đều là các khoáng vật tự nhiên, tuy nhiên cách thức nghiên cứu của hai ngành trên cơ bản là khác nhau. Bạn có thể xem bảng dưới đây để biết rõ hơn.

Như vậy Ngọc học là ngành khoa học có liên quan tới nhiều chuyên ngành khác như khoáng vật học, vật lý, hóa học, khoáng sản học, nghệ thuật, kinh tế…

Thực sự đây là một môn khoa học đòi hỏi kiến thức ở nhiều lĩnh vực. Ngọc học có ba phần chính là đại cương, kỹ thuật và chuyên đề, trong đó:

– Ngọc học đại cương: nghiên cứu về các khái niệm, phân loại đá quý…

– Ngọc học kỹ thuật: chuyên nghiên cứu các đặc tính, phương pháp giám định, xử lý, tổng hợp…

– Ngọc học chuyên đề: đi sâu nghiên cứu từng loại đá quý.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *